DANH MỤC THỊ TRƯỜNG
 THỊ TRƯỜNG
   CANADA
   ITALIA
   AUSTRALIA
   CHI LÊ
   AI CẬP
   NAM PHI
   TRUNG QUỐC
   MALAYSIA
   TÂY BAN NHA
 NGHIÊN CỨU THỊ TRƯỜNG
   THÔNG TIN CHUNG
   THỊ TRƯỜNG THỦY SẢN EU
   THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ
   XUẤT KHẨU GỖ
   THAM GIA HỘI CHỢ Ở NƯỚC NGOÀI
 QUI ĐỊNH
   HÀNG NHẬP KHẨU VÀO NHẬT BẢN
   HÀNG TIÊU DÙNG VÀO NHẬT BẢN
 HƯỚNG DẪN
   LẬP KẾ HOẠCH XUẤT KHẨU
   TÌM KIẾM TRÊN INTERNET
 HỎI ĐÁP
   ĐĂNG KÝ NHÃN HIỆU TẠI HOA KỲ
   ĐĂNG KÝ NHÃN HIỆU TẠI ASEAN
   ĐĂNG KÝ NHÃN HIỆU TẠI EU
   ĐĂNG KÝ NHÃN HIỆU TẠI TRUNG     QUỐC VÀ NHẬT BẢN
 
  HƯỚNG DẪN LẬP KẾ HOẠCH XUẤT KHẨU

QUẢN LÝ CÔNG TY: MỤC TIÊU, NGUỒN LỰC VÀ CÔNG CỤ

Cuốn sách "Hướng dẫn lập kế hoạch xuất khẩu" mở đầu với chủ đề quản lý công ty của bạn. Bạn là người đã thành lập ra công ty, sẽ điều hành, truyền cảm hứng làm việc cho những người khác và cuối cùng đem lại lợi nhuận cho công ty nằm đảm bảo cho công ty hoạt động liên tục, tăng trưởng và có việc làm. Nếu công ty của bạn đã đặt chứng nhận ISO, có lẽ bạn hiểu nhiệm vụ của nhà quản lý, đó là: thiết lập mục tiêu, tạo ra nguồn lực, sản xuất hoặc tạo ra dịch vụ và đánh giá liệu những hoạt động này có được thực hiện đúng hay không. Tiêu chuẩn đẻ đánh giá sự thành công của công ty là sự hài lòng của khách hàng.

Không có gì khác thường trong việc điều hành một công ty. Tất cả chỉ là tạo ra lợi nhuận bằng cách tăng giá trị cho các nguồn lực của bạn. Giá trị đó đủ thực tế để khách hàng quyết định mua hàng của bạn bởi vì sản phẩm của bạn có giá trị gia tăng cao hơn so với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh.

Tuy nhiên, quản lý không phải là công việc dễ dàng, đặc bịêt khi bạn muốn bán hàng cho khách hàng nước ngoài. Về mặt lý thuyết, kinh doanh quốc tế cũng có các phương thức tườn tự như kinh doanh nội địa, nhưng trên thực tế lại khác. Đơn giản là vì khách hàng nước ngoài khác với khách hàng trong nước mà bạn đã quen thuộc. Sự khác biệt đó thể hiện trong nhu cầu của khách hàng, cách thức xúc tiến sản phẩm hay hay dịch vụ của bạn, phương thức vận chuyển hàng hoá đến tay khách hàng. Do sự thành công của công ty được đo bằng mức độ hài lòng của khách hàng nên bạn sẽ tự nhận thấy càn phải thay đổi công ty, sản phẩm nhân viên của bạn và cuối cùng là chính bạn để thích nghi với những mong muốn của thị trường.

Ấn phẩm này sẽ được hướng dẫn bạn cách thức kiểm tra, xác định những điểm khác biệt đó và bạn có thể quyết định hành động để đi tới thành công. Để đảm bảo đạt thành công tốt nhất, với danh nghĩa là người chủ công ty, bạn sẽ phải đưa ra các giải pháp bằng cách đặt ra các mục tiêu. Chương này sẽ mô tả những mục tiêu, nguồn lực và công cụ mà bạn cần có

1.1 Thiết lập mục tiêu

Nhiệm vụ đặc trưng của người quản lý là phải suy nghĩ trước, cố gắng nhìn thấu những bất ổn có thể xảy ra trong tương lai và đưa ra giải pháp cho công ty. Bằng cách sử dụng khả năng của mình để "nhìn xa, trông rộng" tình huống của chính mình, khám phá giá trị thực sự của công ty so với các đối thủ cạnh tranh quốc tế, dự đoán sự thành công của công ty, người quẩn lý được trang bị tốt nhất cho việc thiết kế chiến lược của công ty. Vì thế, thiết kế chiến lược bao gồm cả việc đánh giá các hoạt động và khả năng cạnh tranh của công ty nhằm giúp cho việc lựa chọn đúng phương hướng, đảm bảo lợi nhuận của công ty trong tương lai.

Phân tích: mô tả công việc của công ty – so sánh với đối thủ cạnh tranh

1. Xác định các hoạt động kinh doanh    

Công ty gia tăng giá trị cho các nguồn lực của mình bằng cách nào?

2. Phân tích lĩnh vực mà ngành hàng mục tiêu có những yếu tố cạnh tranh nào?

Tổng hợp: mô tả làm thế nào để công ty thành công hơn

3. Xác định các mục tiêu của công ty - Mục tiêu dài hạn của công ty

4. lập kế hoạch cho công ty – Làm thế nào để đạt được mục tiêu.

Thiết kế chiến lược

Việc thiết kế chiến lược, lập kế hoạch cho mười năm tới hoặc xa hơn nữa, luôn luôn bắt đầu với việc phân tích và kết thúc bằng việc tổng hợp. Phân tích giúp bạn hiểu điểm mạnh, điểm yếu của công ty: để biết công ty có thể làm gì, để nhận ra mọi rào cản ngăn cách bạn đạt tới mục tiêu cuả mình. Bạn cần hiểu tường tận về công ty của bạn, đặc biệt là công ty sẽ như thế nào trong tương lai. Để làm được việc đó, có một số phương pháp đánh giá để  bạn lựa chọn. Chương 2 sẽ chỉ ra cho bạn cách thực hiện phân tích công ty của bạn, tập trung chủ yếu vào các kế hoạch xuất khẩu. Phân tích công ty là nhiệm vụ chiến lược đầu tiên của bạn.

Xây dựng sự hiểu biết về công ty và hoạt động của công ty phụ thuộc vào việc bạn biết sản phẩm của mình có ý nghĩa như thế nào đối với người mua. khi sản phẩm hoặc dịch vụ của bạn hấp dẫn khách hàng, sự hiện diện của bạn trên thị trường cũng thành công hơn. Chủ đề này sẽ được bàn luận trong phần Chiến lược thâm nhập thị trường (Chương 4)

Trước khi lựa chọn mua sản phẩm, khách hàng sẽ so sánh sản phẩm của bạn với sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh (Chương 3). Vì thế, trong phần đánh giá các thị trường hiện tại và tương lai, bạn cần phải xem xét cả vấn đề này. Bạn cần đánh giá xem liệu hiện tại và trong tương lai gần sản phẩm của bạn có đủ sức cạnh tranh hay không vì bạn sẽ cần phải có thời gian cho việc chuẩn bị mở rộng thị trường ra nước ngoài. Nhiệm vụ chiến lược thứ hai của bạn là đánh giá "năm động lực" định hướng thị trường như Michael Porter đã chỉ ra.

Trong thương mại quốc tế, phân phối là chìa khoá của thị trường. Điều đó có nghĩa là nhà nhập khẩu, bán buôn, bán lẻ và các nhà trung gian khác quyết định liệu sản phẩm của bạn có được phép tiếp cận khách hàng (cuối cùng) hay không (Chương 4 và 5). Cụ thể ở Liên minh Châu Âu, các trung gian phân phối chiếm lĩnh công việc kinh doanh. Bạn cần phải biết đến những trung gian này và lam thế nào để tiếp cận họ. Để thuyết phục họ mua và bán lại sản phẩm của bạn, bạn phải có khả năng bán hàng và lập kế hoạch tốt, nói 1 cách ngắn gọn là marketing.

Marketing là công cụ quản lý chủ yếu mà bạn cần cho công việc tổng hợp, một bước trong quá trình lập kế hoạch chiến lược. Trên cơ sở phân tích công ty và môi trường làm việc, bạn có thể thiết kế kế hoạch chi tiết cho các hoạt động trong tương lai (Tham khảo mục: Xây dựng kế hoạch Marketing xuất khẩu trên trang web của CBI và Chương 6 của cuốn sách này) và đây cũng chính là nhiệm vụ chiến lược thứ tư của bạn. Có thể bạn muốn tăng doanh số và lợi nhuận bằng cách mở rộng hoạt động ra thị trường nước ngoài. Đó cũng chính là lý do tại sao bạn cần tham khảo cuốn sách này.

Nhưng trước khi hành động, bạn cần tự hỏi mình tại sao bạn cần mở rộng hoạt động ra thị trường nước ngoài. Đây là thời điểm bạn cần cân nhắc giữa những thuận lợi khi hoạt động trên thị trường mà bạn biết rõ với việc mạo hiểm tiếp cận một thế giới chưa hiểu rõ và có thể không được chào đón.

1.1.1 Những lý do chiến lược để mở rộng hoạt động ra nước ngoài.

Đầu tiên, bạn cần hiểu rằng: xuất khẩu không phải là công việc dễ dàng. Trên thực tế, công việc này phức tạp, rủi ro và tốn kém hơn nhiều so với kinh doanh trên thị trường nội địa.

Hầu hết các công ty vừa và nhỏ (9 trong số 10 công ty) là các nhà sản xuất, không phải công ty kinh doanh. Vì thế, kinh doanh đối với bạn và các công ty này là thứ yếu và thường hạn chế trong thị trường nội địa quen thuộc. Việc bán hàng cho khách hàng nước ngoài và phải chống chọi giành thị phần với các đối thủ cạnh tranh toàn cầu có thể vượt quá khả năng của bạn. Đó chính là lí do tại sao bạn nên suy nghĩ kĩ khi quyết định xuất khẩu. Bạn nên dành thời gian suy tính tới các lựa chọn mang tính quốc tế hoá, bởi vì bạn biết rằng việc đó sẽ tốn nhiều tiền bạc, thời gian, sức lực, sự cống hiến và có thể lấy cạn nguồn lực của công ty bạn.

Việc sử dụng các nguồn lực thuộc trách nhiệm của ban lãnh đạo công ty. Vì thế, việc quyết định sử dụng các nguồn lực đó trong công ty phải cân đối giữa lợi ích thu được và chi phí bỏ ra.

Sự cân nhắc cuối cùng không chỉ là vấn đế kinh tế liên quan tới tính khả thi của xuất khẩu (tham khảo Chương 6). Bạn nhận thức rằng sản phẩm của bạn có thể bán được nếu sản phẩm đó vừa có giá trị tốt, lại vừa có giá rẻ. Nhưng bạn không thể biết được liệu bạn có tạo ra được lợi nhuận từ việc bán sản phẩm đó hay không. Bạn biết rằng lợi nhuận có thể thấp hơn mức thông thườngvì bạn phải hy sinh một phần lợi nhuận để trả cho các chi phí vận chuyển hàng hoá đến thị trường mục tiêu. Nhưng bạn không biết liệu bạn có thể đặt giá cao hơn ở các thị trường xa xôi và thịnh vượng hơn không. Vì thế, bạn cần phải cân nhắc những động cơ chiến lược khác khi quyế định xuất khẩu.

Nhiều nhà xuất khẩu đã đi trước bạn để thử vận may ở các thị trường nước ngoài. Một số người trong số họ có những động cơ xuất khẩu tốt. Ví dụ, động cơ của họ có thể là:

  • Doanh số cao hơn, doanh thu cao hơn, nhiều lợi nhuận hơn, hoặc:

  • Hợp tác với các đối tác thương mại ở những nước công nghiệp hoá sẽ khuyến khích sự phát triển của công ty, giúp công ty tiếp cận với công nghệmới và làm cho công ty hoạt động hiệu quả hơn.

  • Một số người khác có những động cơ tự nhiên như:

  • Thị trường nội địa đã bão hoà, không cho phép tăng trưởng, hoặc:

  • Tránh cạnh tranh, hoặc ngược lại:

  • Theo đuổi canh tranh trên một thị trường mới mở.

  • Những người khác có thể có những lý do cơ hội để xuất khẩu như:

  • Bán hàng hoá sản xuất thừa

  • Khai thác khả năng dư thừa

  • Mở rộng chi phí sản xuất và /hoặc chi phí phát triển sản phẩm trên nhiều đơn vị hàng hoá bán ra hơn (giảm giá thành và tăng khả năng cạnh tranh).
Tất cả những động cơ này đều tốt. Tuy nhiên, có những nhà xuất khẩu tham gia kinh doanh trên các thị trường nước ngoài với những lý do sai lầm. Động cơ của họ là tham vọng cá nhân hoặc uy tín của công ty. Hoặc họ chỉ tìm kiếm cơ hội đi du lịch nước ngoài. Những động cơ như vậy không thực tế, không khả thi và có thể dẫn đến thất bại.

Trước khi thực hiện bốn nhiệm vụ thiết kế chiến lược, người quản lý cần đưa ra những lý do tại sao công ty của mình nên xuất khẩu. Những động cơ này phải hợp lý để bù đắp đủ các chi phí đầu tư cao cho xuất khẩu.Thời gian bù đắp chi phí có thể kéo dài (3-15 năm), chi phí xuất khẩu có thể rất cao.

Hãy hỏi những nhân vật chủ chốt trong công ty của bạn về những động cơ của họ cho các hoạt động mang tính quốc tế hoá của công ty. Tham khảo ý kiến cá nhân của họ với tương lai của công ty và những việc cần phải làm để phát triển công ty. Những quan điểm của họ có thể rất có giá trị. Họ cũng có những mối quan tâm thực sự tới công ty và sẵn sàng cống hiến cho công ty. Với vai trò là người quản lý, bạn cần phải tham khảo những ý kiến đó.

Bạn có thể đặt câu hỏi với họ "Theo ý kiến cá nhân của ban, công ty sẽ như thế nào trong 5 năm tới?". Bạn có thể sử dụng phương pháp "động não" ("brainstorming"), nghĩa là phương pháp vận dụng trí tuệ tập thể, tập hợp tất cả các ý tưởng của các cá nhân trong tập thể. Sau đó, khi đã đi đến bước cuối cùng của công việc xây dựng chiến lược, bạn sẽ sử dụng đến những ý tưởng này (tham khảo Chương 6).

1.1.2 Sự quan tâm của quốc gia

Sự quan tâm của quốc gia là một động cơ cho việc xuất khẩu của doanh nghiệp. Mặc dù động cơ này không định hướng công ty nhưng xét về kinh tế vĩ mô, nó có thể quan trọng với công ty của bạn. Sự quan tâm của chính phủ có thể dưới hình thức hỗ trợ hiệu quả cho hoạt động xuất khẩu của công ty. Trong điều kiện đó, bạn có thể bổ sung động cơ này vào trong danh sách các động cơ xuất khẩu của mình. Tuy nhiên, nếu đây là động cơ duy nhất, bạn không nên xuất khẩu. Công ty bạn không thể thịnh vượng chỉ nhờ vào các khoản trợ cấp.

Sự thịnh vượng và phát triển của công ty dựa vào lợi nhuận tốt hơn các khoản trợ cấp.

Nhiều nền kinh tế đang phát triển cố gắng đẩy mạnh xuất khẩu nhằm củng cố cơ cấu công nghiệp của đất nứơc. Mặt hàng xuất khẩu của bạn có thể đóng góp cho mục tiêu này và sẽ được sự hỗ trợ của chính phủ. Các nhà xuất khẩu thường thanh toán bằng ngoại tệ và sau đó ngoại tệ này được sử dụng để mua hàng hoá và dich vụ không sản xuất được trong nước như: tư liệu sản xuất, công nghệ tiên tiến, bí quyết kinh doanh.

Nguồn thu xuất khẩu không chỉ dùng để mua các mặt hàng nhập khẩu thiết yếu mà còn để thanh toán các khoản nợ dịch vụ. Người ta cũng đã chứng minh là ngoại thương giúp kinh tế tăng trưởng. Khi kết hợp với một môi trường thuế quan thuận lợi, sự tăng trưởng trong nước có thể thu hút các nguồn vốn đầu tư nước ngoài. Qua đó giúp tạo thêm công ăn việc làm và tăng thu nhập.

Đây là những nguyên nhân cơ bản để các nước đang phát triển xúc tiến xuất khẩu. Sự hỗ trợ của chính phủ cho các nhà xuất khẩu dưới hình thức giảm thuế, trợ cấp xuất khẩu, hỗ trợ thông tin và tư vấn thực tế. Các tổ chức hỗ trợ kinh doanh (BSOs) được thành lập cũng vì mục đích này. Họ thay mặt chính phủ đem đến những hình thức khuyến khích cho doanh nghiệp. Họ cũng đóng vai trò quan trọng trong việc phân bổ những ưu đãi thương mại của các nước (xúc tiến) nhập khẩu. Các hiệp hội xuất khẩu khác (như hiệp hội các nhà sản xuất và các phòng thương mại và công nghiệp) cũng giúp ích cho doanh nghiệp vì họ có những hiểu biết về nghành.

1.1.3. Huy động sự tham gia của toàn thể công ty

Khi bắt đầu chuẩn bị xuất khẩu, bạn cảm giác như bạn sẽ phải tự làm mọi việc vì bạn cho rằng đó là nhiệm vụ của người đứng đầu công ty. Tuy nhiên, xuất khẩu là một hoạt động phức tạp ảnh hưởng đến tất cả mọi người trong công ty. Vì thế, trước khi thiết kế chiến lược, bạn cần đánh giá thái độ của nhân viên hoặc tốt hơn là khả năng tham gia của họ trong các hoạt động xuất khẩu.

Các phương pháp quản lý hiện đại đặc biệt coi trọng sự tham gia của toàn thể cong ty. Để thành công trong một công việc đòi hỏi nhiều cố gắng như vậy, người quản lý cần có nguồn lực và sự cam kết tham gia của tất cả các nhân viên.

Có rất nhiều ví dụ về những nhà xuất khẩu thất bại khi nhân viên không hiểu vai trò của họ trong nhóm làm việc. Nhân viên chuyên chở giao hàng sai địa chỉ, nhân viên hành chính gửi hoá đơn sai khách hàng với giá sai. Thư ký dập máy, không hiểu ngôn ngữ của khách hàng. Những việc như vậy xảy ra và gây hại đến công việc kinh doanh của công ty.

Nếu bạn muốn nhân viên của bạn hiểu và thực hiện tốt công việc, bạn phải thông tin và tập huấn tốt cho họ. Nguời quản lý hiệu quả là người có những chỉ dẫn hợp lý cho nhân viên, làm cho nhân viên cảm thấy có tinh thần trách nhiệm. Hãy thử cho họ tham gia vào nhóm thực hiện công việc kinh doanh với nước ngoài. Sự tận tuỵ của họ nhất định phải được trả công xứng đáng. Nhân viên của bạn như thế nào hoàn toàn phụ thuộc vào bạn.

Bạn có thể thông báo cho các bên liên quan về các kế hoạch của bạn. Hãy thông báo cho người chung vốn của bạn vì có thể bạn cần đến sự chấp thuận kịp thời của họ . Hãy thông báo cho tổ chức hỗ trợ thương mại vì có thể bạn cần đến sự hỗ trợ của họ. Bạn có thể thảo luận kế hoạch của mình với những nhà cung cấp chính để tìm hiểu liệu họ có thể tăng mức  cung khi doanh số bán hàng tăng lên không.

Việc giữ bí mật lúc này là không cần thiết và cũng chẳng giúp ích gì cho bạn vì bạn đang cần huy động tất cả các nguồn lực cho hoạt động của mình.

1.2. Nguồn lực

Khi bạn "gia tăng giá trị" của sản phẩm, nghĩa là bạn đang làm tăng thêm giá trị cho sản phẩm. Bạn đang sử dung các nguồn lực sao cho tới cuối ngày số tiền thu vào sẽ phải nhiều hơn lượng bạn phải chi ra để kiếm số tiền đó. Đó là nghệ thuật kinh doanh: tạo ra lợi nhuận.

Trong bước đầu tiên của việc thiết kế chiến lược, bạn cần lập danh sách tất cả các nguồn lực sẵn cócủa mình để xem liệu chúng có đủ đáp ứng khi doanh số bán hàng tăng lên hay không và để thiết lập cách sử dụng các nguồn lực này. Chương 2 sẽ phân tích cụ thể vấn đề này, tuy nhiên tại thời điểm này bạn cũng cần hiểu bản chất, số lượng và sự đa dạng của những nguồn lực cần có.

  • Một chủng loại sản phẩm có thể tạo ra lợi nhuận; doanh thu tốt
  • Thông tin, chuyên môn, bí quyết
  • Công nhân có tay nghề, người giám sát có kinh nghiệm
  • Thiết bị, linh kiện tốt
  • Hệ thống lập kế hoạch tốt
  • Thời gian (để chuẩn bị)
  • Nguồn cung năng lượng
  • Một hệ thống quản lý tốt
  • Một hệ thống đảm bảo chất lượng
  • Các phương tiện sản xuất phù hợp
  • Nhân viên tận tụy, có kinh nghiệm
  • Nguồn cung nguyên liệu ổn định
  • Tiền  (hoặc có thể tiếp cận ván)
  • Không gian (để xây dựng, mở rộng phương tiện sản xuất
  • Nước, không khí sạch

Nguồn lực sẵn có của doanh nghiệp

Bạn cũng có thể bổ sung thêm vào danh sách nguồn lực của mình. Bạn cần xem xét các nguồn tài sản sẽ ảnh hưởng tới hoạt động hiện tại và tương lai của công ty. Cuối cùng, bạn sẽ thấy rằng các nhu cầu của bạn không được đáp ứng đủ, nghĩa là không bao giờ có đủ nguồn lực.

Vì vậy bạn sẽ phải sắp xếp lại các nguồn lực của bạn để nhận ra những nguồn lực nào là thiết yếu và nguồn lực nào của bạn tốt hơn đối thủ cạnh tranh. Việc xuất khẩu sẽ dựa vào những năng lực vượt trội của bạn. Hãy kiểm tra lại các khả năng của công ty: bạn có đánh giá chúng cao hơn các đối thủ cạnh tranh hay không (tham khảo phần 2.5 về đánh giá chi tiết về công ty và năng lực cạnh tranh của công ty)?

  • Sản xuất (gia công, bảo dưỡng)
  • Marketing, bán hàng
  • Hậu cần bên trong (từ khi mua đến khi lưu kho)
  • hậu cần bên ngoài ( xử lý đơn hàng, chuyên chở)
  • Dịch vụ cho khách hàng

 

  • Cơ sở hạ tầng của công ty (tài chính, lập kế hoạch)
  • Quản lý nguồn nhân lực (con người, tiền lương)
  • Công nghệ (thiết kế, thử nghiệm, nghiên cứu và phát triển)
  • Thu mua (nguyên liệu thô, thiết bị)

Năng lực chiến lược

 

 

Theo Michael Porter 1984

Những năng lực này có thể phục vụ tốt cho công việc của bạn, giúp bạn vạch ra định hướng để chinh phục thị trường nước ngoài hoặc ít ra là giành thị phần dù rất khiêm tốn tại thị trường nước ngoài. Đó là vũ khí của bạn trong cuộc chiến cạnh tranh. Nếu được sử dụng một cách thông minh, chúng sẽ hỗ trợ bạn tiếp cận thị trường nước ngoài để bạn có thể quyết định đưa sản phẩm của mình vào vị trí cạnh tranh được với các sản phẩm của đối thủ cạnh tranh.

Cũng theo Michael Porter, chỉ có ba vị trí chiến lược đã được chứng minh đủ mạnh và hứa hẹn có thể giúp sản phẩm cạnh tranh được.

- Giá thành thấp (cost leadership)

- Khác biệt hóa sản phẩm

Các lựa chọn chiến lược

 

- Chuyên biệt hóa sản phẩm

Giá thành thấp "nghĩa là bạn có thể cung cấp sản phẩm với giá cả tốt/ giá trị  chất lượng nhất vì bạn có chi phí thấp nhất (so với đối thủ cạnh tranh).

Khác biệt hoá sản phẩm" nghĩa là phân loại hàng hoá của bạn rộng và sâu hơn đối thủ cạnh tranh.

Bản thân từ "Chuyên biệt hoá sản phẩm" đã nói rõ bản chất của nó, chỉ ra rằng bạn đã thành công trong việc làm cho sản phẩm trở nên đặc biệt mà không có đối thả cạnh tranh nào có thể tìm ra cơ hội hay lý do để làm giả. Vị trí này giúp bạn có được sự cạnh tranh tốt nhất nên nó được nhiều nhà cung cấp ưa chuộng.

1.3. Công cụ quản lý

Tiếp theo các nguồn lực, bạn cần có sẵn các công cụ quản lý, bao gồm:

Marketing

- Lập kế hoạch

- Tuyển nhân viên

- Tài chính

- Kiểm soát sản xuất

- Phản hồi

Do phương pháp luận về lập kế hoạch, đặc biệt là lập kế hoạch marketing, đóng vai trò quan trọng trong quá trình quốc tế hoá, cuốn sách này sẽ dành một phần để trình bày về chủ đề này (Chương 4-6)

Để tìm hiểu những hướng dẫn về việc lập kế hoạch, bạn có thể tham khảo website của CBI (www.cbi.nl), phần Xây dựng tài liệu lập kế hoạch marketing xuất khẩu (Export Marketing Plan Document Builder, tại địa chỉ:
http://www.cbi.nl/show.php?file=show_document.html&id=143
Trong phần này, bạn sẽ tìm thấy một bản mẫu hướng dẫn biên soạn Kế hoạch marketing xuất khẩu (EMP). Hãy thử nghiệm lập EMP sau khi đọc kỹ bản hướng dẫn này. Trong đó, tất cả các thuật ngữ có đề cập đến đều được giải thích cụ thể.

Nhưng trước khi tham khảo phần nội dung chi tiết như hướng dẫn trên, bạn cần lưu ý một số vấn đề chung về marketing quốc tế và lập kế hoạch. Chúng sẽ giúp bạn hiểu những thuật ngữ marketing và thiết kế chiến lược.

1.3.1 Marketing

Tập trung tất cả nỗ lực vào khách hàng

Marketing đã phát triển thành một trong những công cụ quản lý hiệu quả nhất. Những công cụ khác bao gồm: quản lý tài chính, quản lý nhân lực, quản lý sản xuất....Marketing khác với những công cụ này vì nó có thể tạo ra tiền bạc, mà không phải chi phí.

Marketing cũng hỗ trợ đắc lực cho bạn trong việc quản lý xuất khẩu vì nó giúp bạn huy động các nguồn lực một cách có hệ thống và tốn ít sức lực hơn

Hiệu quả của marketing tới công việc quản lý của bạn tăng gấp đôi:

Khuyến khích tất cả các hoạt động của doanh nghiệp tập trung vào mục đích chính là thoả mãn nhu cầu và mong muốn của khách hàng. Khách hàng của bạn đáng được hưởng sự quan tâm vì họ chính là nguồn thu nhập của bạn. ở đây, marketing sẽ mô tả quan điểm của tất cả những người liên quan.

Khái niệm marketing cũng bao gồm cả các kỹ thuật và phương pháp cần thiết để "mang đúng sản phẩm cho đúng khách hàng vào đúng thời gian và địa điểm". Những kỹ thuật này trước kia là "4P" cho phép người quản lý marketing đánh giá một cách lạc quan sản phẩm của mình (Product), định giá sản phẩm (Pricing), phân phối sản phẩm đến tay người tiêu dùng (Place) và thực hiện các hoạt động xúc tiến cần thiết (Promotion) để thuyết phục khách hàng rằng sản phẩm của bạn sẽ đáp ứng những mong muốn của họ.

Hiệu quả tốt nhất của các công cụ 4P này sẽ đạt được khi các công cụ kết hợp với nhau, hướng tới một mục tiêu chung là sự hài lòng của khách hàng. Theo cách này, với chi phí mà bạn bỏ ra, hỗn hợp marketing (marketing mix) sẽ có được những kết quả tốt nhất.

Đôi khi, các điều kiện của thị trường nội địa không đòi hỏi marketing phức tạp, đặc biệt khi  nhu cầu cao hơn năng lực sản xuất. Trường hợp này hiếm khi xảy ra ở các thị trường phương Tây, do nhiều mặt hàng ở đây đã trở nên bão hoà. Khi thị trường tiêu dùng số lượng ít hơn mức mà nhà cung cấp có thể cung cấp, những nhà cung cấp này chỉ có thể tăng trưởng bằng cách giành lại thị phần từ các nhà cung cấp khác. Trong điều kiện thương mại tự do thường xảy ra cạnh tranh. Hầu hết các thị trường ở những nước công nghiệp hoá như EU đều đã trải qua sự cạnh tranh khốc liệt. ở những nước này, marketing không còn là một thứ xa xỉ mà nó đã trở nên thiết yếu.

Đối với hầu hết các nhà quản lý như bạn, marketing không phải là một điều mới mẻ. Tất cả trường dạy kinh doanh tốt đều đào tạo về marketing. Tuy nhiên, chỉ có rất ít các tổ chức (không ngoại trừ các công ty ở những nước công nghiệp hoá) thành công trong việc giới thiệu marketing cho những thành phần có liên quan ở công ty. Hướng tới khách hàng, nguyên lý cơ bản của marketing, là điều mà tất cảe nhân viên của công ty, chứ không chỉ riêng đội ngũ lãnh đạo, cần phải biết. Câu nói"Khách hàng là thượng đế" là phương châm của tất cả mọi người trong công ty, vì cuối cùng lợi nhuận của bạn có được là nhờ việc mua hàng của khách hàng.

Nhiệm vụ của người lãnh đạo công ty là đảm bảo nhân viên của công ty hiểu được tâm lý marketing này. Thậm chí ngay cả khi bạn sử dụng phần lớn thời gian và sự cống hiến của mình cho việc phát triển sản phẩm ( "quản lý theo sản phẩm"), bạn cũng nên luôn ghi nhớ trong đầu rằng ai sẽ trả các chi phí đó: khách hàng nào, thị trường nào (sẽ mua sản phẩm đó).

Thị trường khác biệt

Thị trường nước ngoài có thể hoàn toàn khác biệt với thị trường nội địa quen thuộc của bạn. Có một quy tắc là: càng đi xa, càng khác biệt.

Những sự khác biệt này có thể là khác biệt về xã hội, tôn giáo hay văn hoá. Hoặc cũng có thể là những khác biệt về kinh tế, chính trị hay công nghệ (tham khảo Chương 3.1). Trong số 210 nước trên thế giới, ít nhất có 150 nước sẽ không quen thuộc với bạn, với những gì bạn đã nhìn thấy hoặc đã học.

Con người khác biệt, môi trường khác biệt. Ngôn ngữ của họ, trang phục của họ, cách họ sống, liên lạc, tiêu dùng và mua hàng đều sẽ đặt ra những vấn đề khó hiểu đối với bạn.

Điều đó giải thích tại sao kinh doanh ở nước ngoài khó hơn rất nhiều so với bán hàng trong nước. Mặc dù marketing là một công cụ quản lý thống nhất, tương tự với tất cả các doanh nghiệp trên thế giới, nhưng khi áp dụng công cụ này sẽ cho thấy sự khác biệt. Thị trường mục tiêu ảnh hưởng đến cách thức bạn sử dụng các công cụ marketing.

Trước hết, trách nhiệm của chính bản thân nhà quản lý là phải có tư tưởng cởi mở trước những sự khác biệt nếu bạn muốn khám phá thành công. Hơn nữa, bạn cần phải đề cao những sự khác biệt này và không được đánh giá chúng theo cảm giác và tiêu chuẩn của bản thân bạn. Bạn cần có "tầm nhìn toàn cầu". Đây cũng là một tố chất quan trọng của các nhà xuất khẩu.

Thứ hai, sự thật là bạn không thể có mặt ngay khi vấn đề phát sinh do khoảng cách địa lý giữa bạn và thị trường. Việc này gây khó khăn cho quản lý và làm cho xuất khẩu trở thành một hoạt động kinh doanh đầy rủi ro. Vì thế, có thể bạn sẽ coi  xuất khẩu như một hình thức "marketing từ xa", làm cho việc quản lý bán hàng và hoạt động trở nên lỏng lẻo hơn.

Thứ ba, bạn nên hiểu rằng tình hình cạnh tranh ở các thị trường phương Tây có thể khốc liệt hơn với những gì bạn đã từng trải qua ở thị trường nội địa. Có thể vượt qua rào cản này bằng những khác biệt về chi phí lao động thấp của bạn. Tuy nhiên, đây chỉ là một lợi thế trong ngắn hạn vì bạn đang phải chống chọi với xu hướng tự động hoá và robot hoá.

Thị trường khác biệt. Thị trường là "những nhóm người sẵn sàng và có khả năng mua hàng" (Philip Kotler). Con người suy nghĩ, cảm nhận và hành động theo nền tảng văn hoá của mình. Văn hoá tạo ra sự khác biệt giữa nhóm người này với nhón người khác. Về mặt lý thuyết, bạn sẽ tìm ra một nền văn hoá khác biệt ở một thị trường xa xôi. Thách thức lớn nhất trong kinh doanh quốc tế là hiểu được những nền văn hoá khác nhau và đó cũng là cách duy nhất để hiểu được nhu cầu của thị trường.

Những khách hàng mục tiêu trong xuất khẩu.

B2B, B2C, P2P là gì? Doanh nghiệp – doanh nghiệp, doanh nghiệp – người tiêu dùng, cá nhân -cá nhân? Bạn sẽ thường xuyên đọc thấy những nhóm từ này, những thuật ngữ đặc thù của marketing, khi những thương nhân cố gắng giải thích mối quan hệ của họ với khách hàng. Bạn có quan hệ với nhóm khách hàng mục tiêu nào?

Về mặt lý thuyết, nhóm khách hàng mục tiêu chính của bạn tất nhiên là người tiêu dùng cuối cùng vì cuối vòng đời sản xuất tiêu dùng sản phẩm hoặc sản phẩm được sản xuất từ những sản phẩm đó sẽ được người tiêu dùng cuối cùng sử dụng. Những người đó như bạn và tôi.

Tuy nhiên, trong quá trình từ sản xuất đến phân phối, từ nhà xuất khẩu đến người tiêu dùng cuối cùng, cũng sẽ có những người mua hàng khác. Tất cả những người mua trung gian này cũng có thể là nhóm khách hàng mục tiêu của công việc kinh doanh của bạn, ví dụ:

    Cửa hàng kinh doanh mua hàng từ bạn để phân phối ở nước ngoài;

    Nhà nhập khẩu hoặc đại lý của bạn ở nước ngoài, có thể tự mua hàng từ bạn hoặc tìm kiếm người mua cho bạn;

    Người mua hàng trong chuỗi bán lẻ tập trung vào việc mua hàng

    Nhà sản xuất mà bạn cung cấp nguyên liệu cho sản phẩm xuất khẩu của họ

    Nhà sản xuất mà bạn sản xuất các sản phẩm cho họ dưới hình thức thầu phụ

    Nhà cung cấp nguyên liệu thô, bán nguyên liệu và linh kiện mà bạn mua cho quá trình sản xuất của mình.
Trong một vài trường hợp, các nhóm mục tiêu không có chức năng mua hàngnhwng hoạt động như là những trung gian hoặc người tạo điều kiện cung cấp các dịch vụ cần thiết cho hoạt động xuất khẩu của bạn. Họ có thể là: các cơ quan chính phủ (cấp giấy phép), các ngân hàng thương mại, các tổ chức phát triển trong nứơc, khu vực hoặc siêu quốc gia...Ngay khi bạn biết bạn cần gì từ họ và họ hy vọng gì từ bạn, bạn có thể tổ chức các hoạt động của bạn để đạt được điều đó.

Bạn cần luôn luôn ghi nhớ những hoạt động nào của họ nhằm hợp tác với bạn. Đó cũng là marketing. Để xuất khẩu, cần có ít nhất hai nhóm khách hàng mục tiêu. Nhóm đầu tiên và quan trọng nhất là người tiêu dùng cuối cùng hoặc người sử dụng cuối cùng sản phẩm của bạn. Nhóm thứ hai thường là nhà nhập khẩu hoặc đối tác thương mại của bạn.

Nếu bạn sản xuất "hàng tiêu dùng" (như thực phẩm, đồ gia dụng hoặc hàng dệt may) bạn sẽ phải thực hiện marketing tới người tiêu dùng, trên cơ sở thoả mãn nhu cầu của các nhóm người có cùng các thói quen tiêu dùng nhất định. Nếu bạn là nhà sản xuất "hàng công nghiệp" (như nguyên liệu thô, bán nguyên liệu, linh kiện, dịch vụ cho các ngành công nghiệp), bạn hướng tất cả các hoạt động của mình vào việc thoả mãn những nhu cầu rõ ràng hơn của một hoặc nhiều khách hàng mà bạn chỉ biết tên thông qua công ty của họ hoặc thậm chí chỉ biết tới những yêu cầu cụ thể. Việc này đòi hỏi phải thực hiện marketing công nghiệp, bởi vì bạn cung cấp các sản phẩm mà sau đó sẽ được sử dụng để sản xuất các sản phẩm của khách hàng (công nghiệp) của bạn. Thực ra, hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) đều là những nhà cung cấp công nghiệp. Họ bán sản phẩm và hàng hoá của họ cho các ngành khác và sau đó các ngành này lại sử dụng chúng cho quá trình sản xuất của mình. Đây là đặc trưng của sự phát triển kinh tế: các phần việc đòi hỏi lực lượng nhân công lớn và sản xuất hàng loạt sẽ dần dần được di chuyển và thực hiện thuê ngoài ở các nước đang phát triển.


 

Hầu hết các nhà cung cấp đều sử dụng marketing công nghiệp * trong việc bán hàng cho chóm khách hàng mục tieu của họ (người họ chỉ biết tên và nhu cầu). Chỉ những nhà cung cấp thành phẩm do người tiêu dùng cuối cùng mơớiáp dụng marketing cho nngười tiêu dùng Khi sản phẩm được bán và cung cấp cho hệ thống phân phối (nhà nhập khẩu, người bán buôn, người bán lẻ), nhà cung cấp cũng sử dụng marketing công nghiệp.

Hầu hết các bước của quá trình gia tăng giá trị đều cần đến marketing công nghiệp

*) Cuốn sách này sử dụng marketing cho người tiêu dùng là một hình thức cho tất cả hoạt động marketing. Tuy nhiên, nếu có những điểm đặc biệt cần lưu ý cho nhà xuất khẩu hàng công nghiệp sẽ có đánh dấu ở trong khung ‘B2B’ (doanh nghiệp – doanh nghiệp).

Mỗi bên tham gia trong quá trình sản xuất đều đang gia tăng giá trị của sản phẩm. Hầu hết các công ty, không ngoại trừ công ty của bạn, đều tận dụng đầu vào của các nhà cung cấp khác. Trên thực tế, tỷ lệ hàng hoá được mua cho chính quá trình sản xuất đang có xu hướng tăng, vượt mức trung bình là 60%. Vì thế hơn một nửa giá trị sản phẩm mà các công ty bán ra là được mua từ bên thứ ba "lội ngược dòng" quá trình từ  sản xuất đến tiêu dùng. Thực tế, hơn hai phần ba các công ty vừa và nhỏ cung cấp hàng cho các công ty khác. Họ thực hiện marketing (công nghiệp) "doanh nghiệp -  doanh nghiệp" (B2B).

Bạn sẽ nhận thấy rằng các nước công nghiệp hoá phát triển mạnh mẽ. Đó là nhờ  xu hướng tập trung vào "năng lực chủ đạo", nghĩa là cho phép các nhà sản xuất tập trung vào cái gì họ làm tốt nhất. Họ chỉ đầu tư vào công việc kinh doanh cốt lõi của họ, thuê ngoài những gì họ không thể sản xuất tốt hơn những người khác. Họ giới hạn hoạt động trong việc gia tăng giá trị vào sản phẩm của những nhà sản xuất khác, tối đa hoá tiềm năng lợi nhuận trong các khả năng đặc biệt của bản thân họ. Bạn sẽ nhận thấy các nhà sản xuất ở những nước công nghiệp hoá thu lợi nhuậ từ các chi phí lao động rẻ qua việc mua linh kiện ở các nước đang phát triển hoặc thậm chí phân bổ các ngành nghề đến những khu vực đó.

Trong hoàn cảnh này, nhà sản xuất gia tăng giá trị vào hàng hoá của các nhà cung cấp nguyên liệu thô/bán nguyên liệu, người vận chuyển gia tăng giá trị vào sản phẩm của bạn (bằng cách chuyển chúng tới gần điểm đến) và người bán hàng gia tăng giá trị bằng việc đưa sản phẩm đến với người tiêu dùng cuối cùng.

Marketing công nghiệp là cái bạn cần để tiếp cận và bán hàng cho khách hàng của bạn. Việc xác định nhu cầu của khách hàng rất đơn giản, vì bạn biết họ là ai và họ muốn gì. Vì thế, phần lớn công việc thực tế của bạn hướng đến việc thuyết phục nhà nhập khẩu mua sản phẩm của bạn. Nếu bạn biết nhu cầu của khách hàng của khách hàng của bạn, việc thuyết phục sẽ càng dễ dàng hơn.

Bạn tập trung tất cả nỗ lực của mình nhằm hiểu được khách hàng trung gian và người tiêu dùng cuối cùng bằng cách sử dụng marketing người tiêu dùng. Bạn sẽ sử dụng bí quyết đó để phát triển sản phẩm và cũng để thuyết phục đối tác của bạn rằng bạn là một nhà xuất khẩu có hiểu biết và một đối tác tuyệt vời để hợp tác. Từ đó, họ sẽ phẩn ứng lại như bất kỳ khách hàng công nghiệp nào khác.

Vì thế trong xuất khẩu bạn sẽ sử dụng hai loại hình marketing: marketing người tiêu dùng đối với người tiêu dùng cuối cùng của bạn (nếu bạn cung cấp thành phẩm hoặc dịch vụ hoàn chỉnh) và marketing công nghiệp với người mua trung gian và đối tác thương mại của bạn.

1.3.2. Lập kế hoạch

Lập kế hoạch là một việc làm cần thiết.

Nhà quản lý cần sử dụng phần lớn thời gian của họ để xem xét, lập kế hoạch cho tương lai. Đó là trách nhiệm chính của họ. Trong quá trình phát triển của khoa học quản lý, khâu lập kế hoạch được đặc biệt chú ý và được coi là một công cụ thiết yếu trong quản lý. Tuy nhiên, đáng tiếc là trên thực tế, hầu hết các nhà quản lý của các công ty vừa và nhỏ (SME) thường quá bận rộn cho công việc thường ngày, nên không dành thời gian để có thể lập kế hoạch tốt. Đó là một hiện tượng phổ biến trên toàn cầu.

Hơn nữa, những thay đổi nhanh chóng trong môi trường của thị trường phương Tây khiến cho ác nhà quản lý hầu như không thể dự đoán trước được tương lai của công ty họ. Những thị hiếu về sản phẩm thay đổi nhanh chóng, công nghệ mới được sử dụng trước khi công nghệ hiện tại trở nên lạc hậu, các kênh marketing mới phát triển, các khối thương mại mới được thành lập...

Bạn cũng có thể tham khảo thêm cuốn sách "Exporting to the European Union", được cập nhật tại trang web của CBI. Cuốn sách cung cấp những thông tin hữu ích về các thị trường các nước EU và các quy định liên quan đến kinh doanh tại các thị trường này.

Trong môi trường đó, lập kế hoạch trở thành minh chứng về rủi ro cho việc xây dựng kinh doanh. Các công ty phản ứng lại bằng cách áp dụng linh hoạt để thích nghi nhanh hơn với những thay đổi đó. Họ có thể phải đi một con đường dài, thậm chí tới được điểm mà họ quyết định chỉ đầu tư vào "phần mềm" (con người, bí quyết kinh doanh, các kỹ năng) và giấu phần cứng (công xưởng, máy móc, phương tiện) trong những thời kỳ giới hạn, sẵn sàng thải hồi chúng khi thị trường cần những loại sản phẩm khác. Chiến lược tái cơ cấu chính sách doanh nghiệp, tổ chức và quan điểm quản lý như vậy cũng dựa trên việc lập kế hoạch.

Không hoạt động xuất khẩu nào có thể đi đến thành công mà không cần lập kế hoạch kỹ lưỡng. Sự phức tạp, mức độ rủi ro cao, đầu tư lớn: tất cả những yếu tố đó của xuất khẩu làm tăng sự cần thiết của việc lập kế hoạch và tổ chức rất tốt. Tất nhiên với cương vị một nhà quản lý, bạn biết rằng khi nguồn lực của doanh nghiệp nhỏ hơn mục tiêu của họ, việc lập kế hoạch một cách có hệ thống có thể đảm bảo sử dụng tốt nhất các nguồn lực. Tuy nhiên, bạn sẽ ngạc nhiên nếu biết rằng việc lập kế hoạch không phù hợp sẽ là nguyên nhân chính dẫn đến thất bại trong kinh doanh.

Tuy nhiên, ở nhiều nền văn hoá, lập kế hoạch nói chung không được chấp nhận là một nghiệp vụ. ở một vài nền văn hoá, người ta lập kế hoạch trước hai hoặc ba thế hệ . ở những  nền văn hoá khác, người ta lại không nghĩ trước cho công việc của mình chỉ vài tháng, hoặc thậm chí vài ngày.

Lập kế hoạch là một việc phải làm để xuất khẩu. Để có hệ thống lập kế hoạch trong công ty, bạn với tư cách là nhà quản lý sẽ là người phân công tốt nhất. Các thời kỳ lập kế hoạch cũng tương tự; bạn sẽ biết lịch trình lập kế hoạch như thế nào là tốt nhất cho công ty bạn.

Hệ thống lập kế hoạch

Bất kỳ hệ thống lập kế hoạch nào cũng sẽ hiệu quả vì nó cho phép bạn phân tích công ty, môi trường công ty của bạn và thiết kế các mục tiêu chiến lược và kế hoạch chi tiết để thực hiện. Hệ thống lập kế hoạch có thể là:

- Trình bày nhiệm vụ (=triết lý công tyt)

- Mục tiêu của công ty

- Kế hoạch kinh doanh của công ty.

Sau đó, có thể chỉ rõ các hoạt động xuất khẩu.

Kế hoạch marketing xuất khẩu, bao gồm:

- Mục tiêu xuất khẩu

- Chiến lược thâm nhập thị trường

- Kế hoạch quản lý

- Kế hoạch tài chính

- Kế hoạch hành động

Qui trình lập kế hoạch hình phễu

(Bên trái của phễu chỉ ra các tài liệu lập kế hoạch, bên phải là thời hạn hiệu lực)

Việc lập kế hoạch một cách hệ thống tất cả các hoạt động xuất khẩu dần dần sẽ "làm rõ" khách hàng và / hoặc người tiêu dùng cuối cùng và các hoạt động marketing nhằm tiếp cận họ. Bạn cần ghi rõ kế hoạch hoặc chính xác hơn là các mục tiêu của bạn để thông báo và hướng dẫn cho tất cả các bên liên quan. Việc lập kế hoạch luôn theo một thứ bậc nhất định: mỗi bước tiếp theo đều đi sâu vào các chi tiết cụ thể hơn bước trước. Hệ thống này giống như hình một cái phễu.

Trình bày nhiệm vụ

Mọi công việc lập kế hoạch đều bắt đầu bằng việc "trình bày nhiệm vụ". Thông tin này thể hiện triết lý của công ty: lý do tại sao công ty tồn tại.

Công việc này có thể không quen thuộc đối với những người mới lập kế hoạch lần đầu.  Họ có thể nói rằng "Công ty tồn tại để tạo ra tiền bạc". Đó có thể là một lý do quan trọng nhưng không phải là lý do duy nhất về sự tồn tại của công ty. Có thể có những lý do khác như:

  • Tạo công việc cho công nhân, nhân viên và gia đình của họ;
  • Đem lại sự hài lòng về công việc (đây là động cơ làm việc mạnh nhất trên toàn thế giới)
  • Khuyến khích sự phát triển kinh tế của thành phố, khu vực, đất nước; hoặc đơn giản là:
  • Trở nên quan trọng và được tôn trọng trong cộng đồng.

Việc nêu rõ các lý do về việc tồn tại của công ty là cần thiết vì đó là cơ sở cho việc đối chuẩn các hoạt động. Tất cả các quyết định chiến lược của bạn phải được so sánh với nhiệm vụ của bạn. Bạn sẽ tự hỏi mình liệu quyết định chiến lựơc có phục vụ cho các mục tiêu ban đầu của công ty hay không. Nếu có, bạn sẽ tiếp tục hành động. Nếu không, bạn hãy tự hỏi liệu nhiệm vụ còn hiệu lực hay không hay cần phải được thay đổi.

Khi xây dựng bản trình bày nhiệm vụ, đã được sự đồng thuận cuối cùng của các chủ công ty và các cổ đông, bạn nên viết ra:

  • Các yếu tố quan trọng cho sự thành công hiện tại của công ty
  • Khái niệm kinh doanh của bạn (bạn làm gì)
  • Động cơ (tại sao bạn làm)
  • Phạm vi marketing và lập kế hoạch (bạn làm khi nào và ở đâu)
  • Chiến lược chung của bạn (bạn làm như thế nào)

Bản trình bày nhiệm vụ tồn tại lâu dài, rất hiếm khi có sự thay đổi. Hầu hết các bản trình bày nhiệm vụ đều tồn tại đến 10 năm hoặc lâu hơn thế. Đó là một tài liệu quan trọng. Bạn không nên giấu giếm tài liệu này. Hãy in ra trong báo cáo thường niên của công ty bạn, hoặc in trên các biểu ngữ và các biển hiệu ở khắp công ty. Tất cả mọi người đều được phép biết và đánh giá cao các lý do về tham vọng của bạn.

Bộ Công Thương - Cổng Thương mại điện tử quốc gia - 25 Ngô Quyền, Hoàn Kiếm, Hà Nội, Việt Nam
Điện thoại: 844-2205351 - Fax: 844-2205513
Quay lại Đầu trang